Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHIÊN CỨU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHIÊN CỨU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

NGUỒN GỐC CỦA TẾT THANH MINH

(THANH MINH TIẾT KHỞI NGUYÊN - 清 明 節 起 源)
                                                                                   Võ Minh Hải
Tết Thanh minh (Thanh minh tiết - 清明節)là ngày lễ rất quan trọng trong văn hoá dân gian, là một trong tám ngày lễ tiết quan trọng theo phong tục Trung Hoa (中華) như: Thượng nguyên 上元 hay còn gọi là Nguyên tiêu 元宵, Thanh minh 清明, Lập hạ 立夏, Đoan ngọ 端午, Trung nguyên 中元, Trung thu 中秋, Đông chí 冬至 và Trừ tịch 除夕.
Thời đoạn của tiết Thanh minh có thế rất dài, trước ngày mồng 5 tháng Tư âm lịch 10 ngày và kéo dài sau đó 8 này (có thuyết nói là 10 ngày). Trong khoảng thời gian gần 20 ngày đó được xem là thuộc vào tiết Thanh minh. Về nguồn gốc của lễ tết này, căn cứ theo truyền thuyết khởi thuỷ bắt nguồn từ lễ Mộ tế 墓祭 của các bậc đế vương thời cổ, về sau dân gian cũng phỏng theo tục ấy. Vào ngày này, người ta thường quét dọn, cúng tế mộ phần của tổ tiên ông bà, từ đó đã hình thành một phong tục đẹp của người Trung Quốc. Tết Thanh minh 清明và Xuân tiết 春節, Đoan ngọ 端午, Trung Thu 中秋 còn được gọi là 04 đại lễ tiết truyền thống của người Hoa. Từ năm 2008, tết Thanh minh đã được nhà nước Trung Quốc công nhận là quốc lễ và toàn dân được nghỉ lễ.

NGUỒN GỐC CỦA NGÀY TẾT ĐOAN NGỌ

(ĐOAN NGỌ TIẾT ĐÍCH KHỞI NGUYÊN - 端午節的起源)
                                                                                             Võ Minh Hải
Về nguồn gốc của tết Đoan ngọ端午節, từ trước đến nay đã tồn tại nhiều cách lý giải khác nhau. Từ cuối thời Đông Hán 東漢末年, người ta đã tìm thấy những thư tịch sưu tầm về tết Đoan ngọ, các học giả thời đó cho rằng nguồn gốc của lễ tiết này có liên quan đến sự tưởng niệm thi hào nổi tiếng của nước Sở 楚國- danh nhân văn hoá Khuất Nguyên 屈原. 
Khuất Nguyên, tên là Bình 平sinh vào khoảng năm 280 TCN, là vương công, đại quý tộc của nước Sở. Ông là người có tài năng xuất chúng, “xuất khẩu thành chương, thạo việc giấy tờ” (Tư Mã Thiên) và vô cùng ái quốc. Năm 25 tuổi, ông đã đảm nhận chức vụ Tả đồ 左徒, một cương vị trọng yếu trong bộ máy cai trị, chỉ thấp hơn Tể tướng 宰相 một bậc. Do sớm thành đạt nên Khuất Nguyên đã bị người đời ganh ghét, đố kỵ ngay cả vương phi của vua Sở Hoài Vương 楚懷王 là nàng Trịnh Tụ 鄭袖 cũng tỏ thái độ bất mãn đối với ông. Đương thời, Sở vương là kẻ bất tài, vô đạo, chỉ biết hưởng lạc. Điều đó khiến cho Khuất Nguyên vô cùng lo lắng, ông muốn cải tổ nền chính trị quốc gia, chủ trường liên hợp với các nước khác để ngăn chặn sự ảnh hưởng của nước Tần秦國. Hoài Vương lúc đầu rất tín nhiệm Khuất Nguyên, nhưng về sau vì nghe lời xúc siểm của bọn gian thần, hầu cận nên ngày càng không tin vào những lời khuyên trung thành của Khuất Bình. Vào lúc ấy, cả ba nước Tần 秦, Tề 齊và Sở楚 đều nổi lên tranh bá, giành lấy sự ảnh hưởng đối với các nước nhỏ ở phía Tây, Đông và Nam. Quan viên của nước Sở đã hình thành 02 phái: Thân Tần 親秦 và Thân Tề 親齊. Để thực hiện âm mưu ly gián của mình, nước Tần đã phái Trương Nghi 張儀, một biện sĩ nổi tiếng đến thương thuyết với vua Sở, nước Tần tình nguyện cắt 600 dặm đất tặng cho Sở và yêu cầu nước Sở phải ly khai với Tề, phá bỏ hội ước trước đây của hai nước. Quả nhiên, vua Sở đã trúng kế và tuyên bố tuyệt giao với Tề. Thế nhưng, đến khi nhận đất thì Trương Nghi đã lật lọng nói là chỉ tặng có 06 dặm. Hoài vương tức giận và hạ lệnh phái binh đánh Tần, nhưng bị bại binh ở đất Đan Dương 丹陽 và buộc phải cắt đất bồi thường chiến phí cho Tần.

LỄ HỘI VU LAN KHỞI NGUYÊN VÀ Ý NGHĨA VĂN HÓA

                                                                                        Võ Minh Hải
1. Khởi nguyên của lễ Vu lan
Lễ hội Vu-lan bồn (hay Vu-lan bồn hội 盂蘭盆會,Vu-lan tiết 盂蘭節) là một khái niệm của khu vực Phật giáo Hán ngữ, khởi nguyên có từ trong kinh tạng của Phật giáo. Hai chữ Vu-lan 盂蘭 được chuyển dịch tắt từ chữ Ullambana trong tiếng Phạn, được người Trung Quốc phiên âm là 烏藍婆孥, người Việt căn cứ theo mặt chữ, đọc cụm từ này theo âm Hán-Việt là Ô lam bà noa; hàm nghĩa của cụm từ này là hiếu thuận, cúng dường, báo ân, cứu đảo huyền, giải thoát sự thống khổ. Danh từ Ullambana có gốc động từ Ud-vlamb, nghĩa là “treo (ngược) lên”. Do đó, các nhà ngôn ngữ Trung Quốc đã dịch thành “đảo huyền 倒懸” và gia tăng thêm hàm nghĩa “cứu đảo huyền chi khổ 救倒懸之苦”, tức là cứu nỗi khổ đau bị sa đọa trong địa ngục. Từ Bồn 盆 là chữ Hán, có nghĩa là cái chậu, đồ dùng để chứa đựng.

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

VỀ CHỮ NHÂN 仁 TRONG TƯ TƯỞNG CỦA KHỔNG TỬ

                                                                                             Võ Minh Hải
Khổng Tử 孔 子 tên Khâu 丘, tự là Trọng Ni 仲 尼, sinh ngày 1 tháng 11 năm Canh Tuất 庚 戌 (551 TTL) đời Chu Linh Vương 周 靈 王 năm thứ 21 và Lỗ Tương Công 魯 襄 公 năm thứ 22 tại ấp Tu, làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ (thuộc phía nam tỉnh Sơn Đông – Trung Quốc). Những chi tiết kỹ càng hơn cả về đời sống của ngài là tiểu sử được chép trong quyển XLVII bộ Sử ký 史 記 của Tư Mã Thiên 司 馬 遷.
Khổng tử là người sáng lập ra đạo Nho mà giới nghiên cứu tư tưởng phương Tây gọi là phái Khổng học. Ông là danh sư có ảnh hưởng rất lớn và – điều này mới là điều trọng yếu và duy nhất – là nhà giáo lập trường tư đầu tiên trong lịch sử trung Quốc. Bình sinh, Khổng tử luôn nêu cao tư tưởng Nhân nghĩa, đặc biệt là đức Nhân. Đó là hạt nhân nòng cốt, là con đường đưa ông trở về với nhân bản, với tinh thần nhân văn sâu sắc của văn hoá Trung Hoa, một đặc điểm xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng và đó cũng là một yếu tố khẳng định sự trường cửu của tư tưởng Khổng tử qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển.

VĂN HOÁ HÔN NHÂN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TỪ NGUYÊN HỌC VĂN HOÁ

                                                                                     Võ Minh Hải
Theo Lễ kinh 禮經, hôn nhân là một trong 04 nghi lễ quan trọng của đời người. Đó là Quan, Hôn, Tang, Tế. Quán 冠 là lễ gia quan (đội mũ), biểu thị sự trưởng thành của nam nhân, bởi lẽ ngày xưa con trai hai mươi tuổi thì phải làm lễ đội mũ. Vì thế, theo Thiều Chửu trong Hán Việt tự điển, con trai trong hai mươi tuổi còn gọi là nhược quan 弱冠.Hôn 婚 (tức nghi lễ thành gia lập thất, duy trì lễ pháp tông đường), Tang 喪 là nghi lễ kết thúc chu trình vòng đời một con người và Tế 祭 là nghi lễ tôn thiên kính địa, lễ bái tiền nhân, tổ tiên của dòng họ, đây là một sự việc cực kỳ trọng đại và liên quan trực tiếp đến đời sống tâm linh của con người. Trong chu trình của một đời người, 04 nghi lễ này đánh dấu sự trưởng thành của con người xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu và lý giải nguồn gốc nghi lễ thứ hai của hai từ góc độ từ nguyên văn hoá.

BIỂU TƯỢNG TRÚC VÀ THI NHÂN

                                                                                          Võ Minh Hải
                                                                  Kính tặng thầy Lê Văn Lợi
          Từ xưa đến nay, màu xanh thẫm của những rừng trúc đã khiến cho không biết bao nhiêu văn nhân, thi sĩ hết lời ca tụng. Thơ phú từ khúc viết về trúc có thể nói là vô số, không thể lượng tả được. Cổ nhân quan niệm: “Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc. Vô nhục sử nhân sấu, vô trúc sử nhân tục寧可食無肉不可居無竹. 無肉使人瘦無竹使人俗” (Có thể ăn mà không cần có thịt nhưng không thể sống mà không có trúc, không có thịt thì chỉ khiến cho người ốm đi, không có trúc khiến cho người trở nên bình thường). Câu nói trên đã khẳng định nhã thú thanh cao thoát tục của văn nhân sĩ đại phu thời trước.
          Trịnh Bản Kiều 鄭板橋 đời Thanh 清代 là người cả đời chỉ vẽ trúc và làm thơ về trúc (vịnh trúc hoạ trúc 詠竹畫竹) và đã để lại khá nhiều hảo thủ giai cú (好首佳句) viết về trúc, trong bài thơ Trúc thạch 竹石, ông viết:
Giảo định thanh sơn bất phóng tùng,
Lập căn nguyên tại phá nham trung.
Cán ma vạn kích hoàn kiên kính,
Nhậm nhĩ đông tây nam bắc phong
咬定青山不放鬆,
立根原在破岩中.
幹磨萬擊還堅勁,
任爾東西南北風”

CHẾ ĐỘ THẾ TẬP VÀ NGUYÊN LAI CÁC TÊN GỌI THƯỜNG DÙNG CHO HOÀNG ĐẾ VÀ HOÀNG TỘC

                                                                                    Võ Minh Hải
1. Vài nét về chế độ thế tập trong lịch sử Trung Hoa
          Chế độ quân chủ của ba triều đại Hạ 夏, Thương 商 và Chu 周 sau khi vua lên ngôi đều xưng Vương 王. TrongGiáp cốt văn  甲骨文, chữ Vương được viết theo hình thể của chữ 大, với ý nghĩa tượng trưng cho tư thế của một người ngồi ngay thẳng, chính diện ở đại điện. Đến nhà Thương, vua Tổ Giáp 祖甲 đã tự nhận mình là vua của một nước. Địa vị đáng tôn sùng ấy cần phải có mũ miện. Vì thế, trong Giáp cốt văn, chữ Vương có thêm một nét ngang trên đầu và nó trở thành tự dạng như chữ Ngọc 玉. Điều này chứng minh rằng, biện pháp chính trị nào của thời quân chủ chuyên chế cổ đại cũng đều hướng đến việc củng cố và tôn sùng Vương vị 王位. Ông vua là chủ tể của quốc gia, là đại biểu cho tất cả quý tộc chủ nô. Đấy là đặc trưng chủ yếu đầu tiên của chính thể chuyên chế Hạ, Thương, Chu.

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013

TẾT TRUNG THU VÀ Ý NGHĨA VĂN HOÁ

                                                                                  Nguyễn Thị Lan Anh
1. Nguồn gốc của lễ Trung Thu
Tết Trung thu khởi nguyên từ Trung Quốc, là một lễ hội dân gian truyền thống ở khu vực Đông Á được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 âm lịch hàng năm. Tết Trung thu không chỉ là ngày tết cổ truyền của người Trung Hoa mà còn là lễ hội truyền thống của các nước ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa như Nhật Bản, Việt Nam, Bán đảo Triều Tiên và nhiều nơi khác.
Theo nông lịch 农历 của người Trung Quốc, tháng 8 được gọi là Thu quý 秋季 và là tháng thứ hai của mùa thu, thời cổ được gọi là Trọng thu 仲秋, trong dân gian thường gọi là Trung thu 中秋. Ngoài ra, lễ tiết này còn có những tên gọi khác như Thu tịch 秋夕, Bát nguyệt tiết 八月节, Bát nguyệt bán 八月半, Nguyệt tịch 月夕, Nguyệt tiết 月节. Vào ngày này, trăng tròn và viên mãn nhất, đó cũng chính là biểu tượng của sự đoàn viên 团圆 do đó còn được gọi là Đoàn viên tiết 团圆节 … Về chữ tết mà chúng ta sử dụng trong cụm từ tết Trung thu là cách đọc chệch âm từ tiết 节 trong từ tiết khí 节气.